Quyền lập các tổ chức công đoàn độc lập: những tác động chính trị

20180310_BLP525.jpg

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương [Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership – CPTPP] đã có hiệu lực thi hành, để có thể thành lập các tổ chức công đoàn độc lập, trước tiên cần thay đổi hệ thống pháp luật tương ứng.

Khi đã có tư cách chính trị thì sẽ phát triển thành lực lượng chính trị?

Do Việt Nam đang theo đuổi các cải cách kinh tế tự do hơn, những người lạc quan sẽ có lý do để ấp ủ hy vọng rằng một ngày nào đó tự do hóa kinh tế sẽ dẫn đến dân chủ hóa chính trị. Tuy nhiên, điều này có vẻ là một kịch bản xa vời do các tác động dân chủ hóa cần nhiều thời gian để tích tụ, cũng như do các chiến lược duy trì quyền lực hiệu quả của đảng cộng sản Việt Nam, dù cả nước đã đi trên con đường tự do hóa kinh tế trong suốt hơn 30 năm qua.

Một lý do phù hợp hơn để lạc quan về tác động chính trị của CPTPP đối với Việt Nam, có lẽ là như tuyên bố hồi năm ngoái của Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khi trình CPTPP để Quốc hội phê chuẩn: “Hiệp định CPTPP giúp nước ta thể hiện cam kết mạnh mẽ đối với đổi mới và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng” [http://bit.ly/2TvvzlC]. Bởi điều đó cho thấy dường như ít ra về mặt hình thức, đảng cộng sản Việt Nam sẵn lòng tuân thủ các quy định lao động của CPTPP.

Các tiền lệ lịch sử, chẳng hạn như phong trào Đoàn kết ở Ba Lan, đã cho thấy các công đoàn lao động độc lập có thể phát triển thành những lực lượng chính trị có ảnh hưởng, giúp mang lại những sự thay đổi chính trị lớn. Điều này có vẻ sẽ khó diễn ra ở Việt Nam do một số lý do:

Thứ nhất, các quy định về lao động của CPTPP thực ra được rút ra từ Tuyên bố năm 1998 của Tổ chức Lao động Quốc tế. Do là thành viên của tổ chức này, việc Việt Nam đồng ý tuân thủ các quy định về lao động của CPTPP chỉ là sự tái khẳng định các cam kết cũ, và không đồng nghĩa với một sự nhượng bộ mới của đảng cộng sản Việt Nam theo hướng tự do hóa chính trị.

Thứ hai, mặc dù về dài hạn, quyền thành lập công đoàn độc lập có thể được sử dụng bởi một số lực lượng để vận động thay đổi chính trị, đảng cộng sản Việt Nam rất có thể sẽ đảm bảo rằng bất kỳ công đoàn lao động nào được thành lập, cũng sẽ chỉ là để phục vụ cho mục đích kinh tế, tức là bảo vệ quyền lợi và phúc lợi kinh tế của người lao động.

Về vấn đề này, đảng và bộ máy an ninh của mình có thể sẽ xây dựng một số chiến thuật nhất định để giới hạn một cách “hợp pháp” phạm vi của các công đoàn độc lập, và để ngăn chúng khỏi bị lợi dụng về mặt chính trị. Luật An ninh mạng vừa có hiệu lực, có thể là minh chứng.

Một khi tự nhận mình là “đội tiên phong của giai cấp công nhân”, đảng cộng sản Việt Nam có rất ít lý do để phản đối các quy định về lao động của CPTPP, vốn được cho là để bảo vệ quyền lợi và phúc lợi của người lao động. Do đó, việc chấp nhận những quy định này, xét về bề ngoài sẽ góp phần bổ sung vào tính chính danh chính trị của đảng, trong khi cho phép các nhà đàm phán Việt Nam có cơ sở để đòi hỏi nhượng bộ trong các lĩnh vực khác.

Nền móng cho quá trình dân chủ?

Dĩ nhiên CPTPP có khả năng sẽ gây ảnh hưởng đến quỹ đạo chính trị của Việt Nam trong dài hạn, nếu một số điều kiện nhất định được đáp ứng.

Một là, việc thực hiện CPTPP phải giúp đẩy nhanh sự phát triển kinh tế của Việt Nam và tiếp tục mở rộng tầng lớp trung lưu, từ đó đặt nền móng cho một quá trình chuyển đổi dân chủ.

Hai là, do những áp lực cạnh tranh từ CPTPP, bản thân đảng cộng sản Việt Nam có thể nhận ra sự cần thiết phải thực hiện những cải cách chính trị, có ý nghĩa để giải phóng tiềm năng kinh tế của đất nước khỏi những ràng buộc về chính trị và thể chế, bắt nguồn từ chế độ độc đảng của mình.

Nền tảng để thành lập các công đoàn độc lập là phải dứt khoát chấm dứt phân biệt về “quyền lợi chính trị” giữa “công dân – đảng viên” và “công dân – không đảng viên” trong tất cả mọi hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật.

Điều này đã được xác lập tại Điều 14: “1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. 2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.

Như vậy từ nguyên tắc Hiến định của Điều 14 cho thấy để phù hợp với thỏa thuận của CPTPP cũng như những điều ước quốc tế, cùng các thỏa thuận FTA (Free trade agreement, Hiệp định thương mại tự do) khác, thì Điều 10 của Hiến pháp hiện hành cần sửa đổi như sau: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức xã hội dân sự của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật” [*]

Có nghĩa là mặc dù tránh cụm từ “tổ chức chính trị – xã hội” mà đảng cộng sản Việt Nam cho là ‘nhạy cảm’, là ‘độc quyền’ của công đoàn quốc doanh (Điều 1, Luật Công đoàn 2012), với việc sửa đổi Điều 10, Hiến pháp 2013, cho thấy các công đoàn độc lập vẫn có đầy đủ các quyền về chính trị như công đoàn quốc doanh.

Sửa Hiến pháp có nhanh không?

Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 2013 như đề nghị ở trên sẽ được thực hiện tương tự như quy trình ban hành Nghị quyết số 51/2001/QH10, “Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992”, ký ban hành ngày 25 tháng 12 năm 2001.

Quy trình tiến hành sửa đổi khi ấy khá nhanh: Ngày 29 tháng 6 năm 2001, chủ tịch Quốc hội ký ban hành Nghị quyết số 43/2001/NQ-QH10, về việc “Thành lập Uỷ ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992”.

Nghị quyết được ban hành trên căn cứ: Nghị quyết số 42/2000/QH10 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 8 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2001, ký ngày 9 tháng 12 năm 2000; Tờ trình số 310/UBTVQH10 ngày 18 tháng 5 năm 2001 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về những vấn đề cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, Tờ trình số 311/UBTVQH10 ngày 18 tháng 5 năm 2001 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về dự kiến danh sách Uỷ ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội.

Như vậy thời gian thủ tục hành chính mất đúng 6 tháng, bao gồm cả thời gian dài nghỉ Tết và các ngày lễ.

Nguyễn Cao -Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam

Chú thích:

[*] Hiến pháp 2013, Điều 10 hiện nay: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Répondre

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l'aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google

Vous commentez à l'aide de votre compte Google. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l'aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l'aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

Connexion à %s